Rắn hổ mèo - Viet Snake Rescuer

Rắn hổ mèo

Naja siamensis

  • Có độc
  • Hiếm gặp
  • Không nên đụng chạm
  • Thuốc chống rắn không có tác dụng

Rắn hổ mèo hay Rắn hổ mang phun nọc Đông Dương có tên khoa học Naja siamensis LAURENTI, 1768 thuộc họ rắn Hổ (Elapidae), giống Naja. Loài này dễ bị nhầm lẫn với rắn hổ mang Ấn Độ (Naja naja) khi tra cứu trên các nền tảng trực tuyến.

Rắn hổ mèo
  • Kích thước: Trung bình, có thể đạt tới 160cm nhưng thường thấy nhất ở khoảng từ 90-130cm.
  • Màu sắc: Mặt lưng thường có màu nâu sẫm, nâu xám sẫm, nâu đen hoặc đen (ở miền Trung, Đông Nam Thái Lan và Lào), hoặc màu ô liu, ô liu xanh, nâu ô liu hoặc nâu nhạt (ở miền Bắc, Đông Bắc Thái Lan, Campuchia và Việt Nam). Hoa văn trên mang có tỷ lệ xuất hiện ngang nhau. Khi xuất hiện, nó thường có hình dạng giống như một chiếc kính mắt điển hình, bao gồm hai đốm nhãn khoa (ocelli) nhạt màu nối với nhau bằng một đường cong hình chữ U hoặc V nhạt màu. Con non thường có màu tối đồng nhất hoặc đen trắng như con trưởng thành.
  • Đầu: Đầu thon dài, hình bầu dục, dày và phân biệt rõ với cổ. Mõm ngắn, tù khi nhìn từ trên xuống. Mắt nhỏ, đồng tử tròn. Đầu có cùng màu với thân hoặc hơi xanh/xám hơn. Cằm, vảy môi dưới và họng có màu trắng hoặc kem, đôi khi có các đốm đen. Răng phát triển để có khả năng phun nọc.
  • Thân: Chắc nịch, nhìn hơi tam giác ở mặt cắt ngang hoặc hơi dẹt khi nhìn từ theo hướng lưng-bụng. Mang phát triển đầy đủ, rộng và dài, bắt đầu ngay phía sau đầu.
  • Sinh cảnh: Loài rắn nhanh nhẹn này sống trên cạn, hoạt động mạnh vào lúc hoàng hôn và ban đêm, nhưng cũng có thể hoạt động vào ban ngày. Nó cư trú ở rìa rừng thường xanh, rừng gió mùa rụng lá, rừng thứ sinh, bụi rậm, đất canh tác và ruộng lúa, từ mực nước biển đến độ cao ít nhất 600 m.
  • Sinh sản: Đẻ trứng.
  • Thức ăn: Chủ yếu ăn thú nhỏ (chuột), động vật lưỡng cư, thằn lằn và các loài rắn khác.
1

Trấn an nạn nhân

Giữ nạn nhân nằm yên, hạn chế cử động để làm chậm sự lan truyền của nọc độc. Không để nạn nhân tự đi lại.
2

Cố định vết thương

Rửa sạch vết cắn bằng nước và xà phòng. Băng ép nhẹ (không garo quá chặt) ở phía trên vết cắn và để vùng bị cắn thấp hơn tim.
3

Đến cơ sở y tế

Vận chuyển nạn nhân đến bệnh viện gần nhất càng sớm càng tốt. Nếu có thể, hãy chụp ảnh con rắn để bác sĩ xác định loại huyết thanh kháng nọc phù hợp.
KHÔNG rạch vết thương, KHÔNG hút nọc, KHÔNG đắp lá thuốc dân gian.

Rắn hổ mèo là một loài rắn độc nguy hiểm và đặc biệt chúng có thể phun nọc độc.

  • Phun nọc: Có thể phun xa tới 2m. Nếu nọc độc tiếp xúc với mắt, nó gây bỏng rát dữ dội, viêm kết mạc, loét giác mạc và có thể dẫn đến mù vĩnh viễn nếu không được rửa sạch kịp thời bằng lượng lớn nước hoặc chất lỏng sạch khác.
  • Khi bị cắn: Gây đau tại chỗ dữ dội, sưng tấy và hoại tử mô rộng. Các triệu chứng toàn thân xuất hiện từ 1–5 giờ sau khi cắn: đau đầu, nôn mửa, sụp mi, khó nói, liệt cơ mặt và cổ, dẫn đến tử vong do suy hô hấp và ngừng tim do trong nọc độc có chứa các độc tính tế bào (cytotoxic) và độc tính thần kinh (neurotoxic) rất mạnh.
  • Tập tính: Không giống như rắn hổ đất (N. kaouthia), loài này rất hung dữ, đặc biệt là vào ban đêm. Khi bị kích động, nó dựng thân trước, xòe mũ và phun nọc cực kỳ chính xác vào mắt kẻ thù từ một khoảng cách đáng kể mà không cần giả định tư thế phòng thủ. Nó sẽ tấn công và cắn nếu bị dồn vào đường cùng.

THÔNG TIN CỦA LOÀI

Họ:
Elapidae
Giống:
Naja
Loài:
Rắn Hổ (Elapidae)
Tên thông thường:
Naja siamensis
Tên địa phương:
Rắn hổ mèo

Vùng phân bố

Quần đảo Hoàng Sa
Quần đảo Trường Sa

Phân bố: Miền trung và miền nam Việt Nam.